80 năm bài thơ 'Nhớ Bắc' và khát vọng thống nhất non sông

Huỳnh Văn Nghệ (1914 - 1977), được biết đến là một vị chỉ huy quân sự tài ba và là một nhà thơ nổi tiếng của miền Đông Nam bộ. Ông được người đời tôn vinh là "Thi tướng" nhờ sự kết hợp hài hòa giữa khí chất hào hùng của người lính cách mạng và chất hào hoa lãng tử của một thi nhân.

Năm 1946, từ chiến khu Đ trên đất miền Đông Nam bộ, Huỳnh Văn Nghệ đã sáng tác bài thơ Nhớ Bắc. Từ bài thơ này, danh tiếng của Huỳnh Văn Nghệ trở nên lẫy lừng trên cả hai lĩnh vực quân sự và thơ ca.

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Nói đến đất miền Đông là nói đến Huỳnh Văn Nghệ, nói đến Huỳnh Văn Nghệ là nói đến Nhớ Bắc.

Năm 1946, đất nước đứng trước thử thách đặc biệt khi nền độc lập non trẻ ở vào thế "ngàn cân treo sợi tóc". Ở miền Bắc, khoảng 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc vẫn đang hiện diện. Trong khi đó, tại miền Nam, thực dân Pháp ráo riết thực hiện âm mưu tách Nam Bộ khỏi Việt Nam thông qua việc dựng lên "Nam Kỳ tự trị".

Trước tình thế ấy, ngày 6.3.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp nhằm tạo thêm thời gian và điều kiện bảo vệ chính quyền cách mạng.

Cùng thời gian đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị sang Pháp để tiến hành cuộc đấu tranh ngoại giao nhằm bảo vệ nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời. Trước lúc lên đường, Người khẳng định: "Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi".

Lời tuyên bố đầy khí phách ấy đã thắp lên ngọn lửa yêu nước trong trái tim người chỉ huy trẻ mang tâm hồn thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ. Trong bối cảnh đó, từ chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ đã sáng tác bài thơ Nhớ Bắc với những câu thơ hào sảng, trở thành tiếng lòng của người Nam bộ hướng về cội nguồn dân tộc:

Ai về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Đó là những vần thơ cháy bỏng lòng yêu nước và mang khát vọng thống nhất non sông, thể hiện sự lựa chọn trước sau như một của tác giả cũng như của đồng bào Nam bộ: luôn hướng về cội nguồn miền Bắc ruột thịt. 

Với Nhớ Bắc, Huỳnh Văn Nghệ muốn ra một tuyên ngôn bằng thơ: dù trong gian khổ của chiến tranh, đồng bào Nam bộ vẫn luôn hướng về miền Bắc nơi phát tích của dân tộc Việt chứ nhất định không đầu hàng quân xâm lược Pháp. 

Qua những vần thơ ấy, ông khẳng định một chân lý giản dị mà bền vững: người Việt Nam, dù sống ở bất cứ miền đất nào, đều chung một cội nguồn Lạc Hồng và không gì có thể chia cắt được.

80 năm bài thơ 'Nhớ Bắc' và khát vọng thống nhất non sông- Ảnh 1.

Huỳnh Văn Nghệ tại chiến khu Đ

ẢNH: TƯ LIỆU

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên

Huỳnh Văn Nghệ sinh ra, lớn lên và gắn trọn cuộc đời chiến đấu với miền Đông Nam bộ. Ông quê ở làng Tân Tịch, nay thuộc tỉnh Đồng Nai.

Từ cái nôi giàu truyền thống cách mạng miền Đông, Huỳnh Văn Nghệ đã mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn và tích cực tham gia các phong trào cách mạng. Ngày Nam bộ kháng chiến 23.9.1945, ông đã tích cực tham gia và sớm trở thành một vị chỉ huy của lực lượng vũ trang địa phương đứng lên chống thực dân xâm lược Pháp. Ông từng giữ các chức vụ quan trọng như Khu bộ phó Khu 7, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 310, Phó tư lệnh Khu 7, Tỉnh đội trưởng Thủ Biên. Ông là người đã trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh lớn vang dội, tiêu biểu là trận đánh lớn ở La Ngà. 

Cuộc đời trai trẻ của Huỳnh Văn Nghệ là cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương. Ông xem đó là một sứ mạng và đã đưa tinh thần đó vào trong Nhớ Bắc với những câu thơ hào sảng, vừa hoài cổ lại vừa lãng tử:

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê mơ cảnh tiên.

80 năm bài thơ 'Nhớ Bắc' và khát vọng thống nhất non sông- Ảnh 2.

Huỳnh Văn Nghệ - tác giả & tác phẩm (NXB Đồng Nai, 2008)

ẢNH: TƯ LIỆU

Nhớ về một vùng đất chưa từng đặt chân đến

Điều kỳ lạ của Huỳnh Văn Nghệ là ông sáng tác bài thơ Nhớ Bắc khi ông là một người sinh ra ở Nam bộ, chiến đấu và trưởng thành ở Nam bộ, ông chưa một lần đặt chân đến miền Bắc, đến Thăng Long, Hà Nội. 

Thế mà trong Nhớ Bắc, Huỳnh Văn Nghệ đã đưa vào rất tài tình và khéo léo hình ảnh điển hình của miền Bắc như tiếng hát trữ tình dân ca miền quan họ và mùa vải chín đỏ trên cành. 

Thông thường chỉ những người sinh ra ở miền Bắc mới có nỗi nhớ đặc trưng đó nhưng với Huỳnh Văn Nghệ, ông xem miền Bắc là cội nguồn dân tộc và cũng chính là quê hương của ông. Huỳnh Văn Nghệ nhớ câu quan họ như người miền Nam nhớ một câu vọng cổ buồn. Tương tự, ông nhớ mùa vải chín đỏ ở miền Bắc như người miền Nam xa quê nhớ hương vị sầu riêng phảng phất đâu đây:

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn nhớ vẫn thương mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng.

Với Nhớ Bắc, thi tướng Huỳnh Văn Nghệ đã làm nên một cuộc thống nhất non sông bằng thơ ca. Đó là ý nghĩa lớn lao nhất toát lên từ tác phẩm của ông.

NHỚ BẮC
Ai về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn nhớ vẫn thương mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng.

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê mơ cảnh tiên.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồ xưa linh quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta?
(Huỳnh Văn Nghệ, chiến khu Đ, 1946)

Muốn trở về quê mơ cảnh tiên

Đó là câu cuối trong khổ thơ thứ ba của bài thơ Nhớ Bắc. Với câu thơ này, Huỳnh Văn Nghệ coi miền Bắc như là quê hương mình và ông có một khát vọng được trở về chốn quê hương nguồn cội ấy. Ông xem việc chiến đấu trên đất Nam bộ là một sứ mạng trên một vùng đất quá xa miền Bắc, như một viên tướng cầm quân chinh chiến ngoài biên ải đang quá xa kinh đô và mong ngày trở lại.

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê mơ cảnh tiên.

Khát vọng ấy cũng là tâm thế của nhiều thế hệ người lính Việt Nam trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: từ kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ đến làm nghĩa vụ quốc tế ở biên giới Tây Nam và bảo vệ biên giới phía Bắc. Dẫu chiến đấu ở những vùng đất khác nhau, họ đều mang trong mình niềm tin vào một đất nước thống nhất, độc lập và khát vọng ngày trở về. Chính bởi chạm đến những giá trị bền vững ấy, Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ đã vượt qua giới hạn của một bài thơ thời chiến để trở thành một tác phẩm sống mãi với thời gian.

80 năm bài thơ 'Nhớ Bắc' và khát vọng thống nhất non sông- Ảnh 3.

Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ (NXB Đồng Nai, 1998)

ẢNH: TƯ LIỆU

Với bài thơ Nhớ Bắc, Huỳnh Văn Nghệ đã ghi tên mình vào lịch sử văn học Việt Nam như một thi sĩ - chiến sĩ tiêu biểu. Bên cạnh Nhớ Bắc, ông còn để lại nhiều tác phẩm giá trị như bài thơ Bà mẹ Việt Nam và tập hồi ký Quê hương rừng thẳm sông dài

Từ chỉ huy chiến khu đến Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp

Ít người biết rằng sau Hiệp định Genève năm 1954, Huỳnh Văn Nghệ tập kết ra Bắc, công tác tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam rồi giữ chức Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp. Năm 1965, ông trở lại chiến trường miền Nam công tác tại Trung ương Cục. 

Sau ngày đất nước thống nhất, ông đảm nhiệm cương vị Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp cho đến khi qua đời năm 1977.

Không chỉ để lại dấu ấn với Nhớ Bắc, Huỳnh Văn Nghệ còn được ghi nhận là một trong những vị chỉ huy tiêu biểu của chiến trường miền Đông Nam bộ. 

Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật; năm 2010 được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.